TPHCM: Bao giờ công dân Phạm Hồng Ân mới hết cảnh đi khiếu kiện ..?

2019-11-21 16:20:00
Vừa qua, Tạp chí điện tử Hòa nhập nhận được Đơn Đề nghị ghi ngày 15/11/2019 (kèm theo hồ sơ) của ông Phạm Hồng Ân (Sinh năm 1960), địa chỉ:  c7b/129/18 ấp 4 xã Bình Hưng. huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Theo đơn và hồ sơ thì ông Phạm Hồng Ân là bị đơn trong vụ án: “Tranh chấp hợp đồng ủy quyền” do TAND Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết tại Bản án sơ thẩm số 1171/2016/DS-ST ngày 24/11/2016 và TAND cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh giải quyết tại Bản án dân sự phúc thẩm số 100/2018/DS-PT ngày 17/5/2018 với nguyên đơn là bà Đỗ Diễm Quỳnh, sinh năm 1981; địa chỉ: Lô 6, Triệu Việt Vương, Phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng và ông LinTong Chih, sinh năm 1937, địa chỉ: Lầu 3, lô 3, Số 315 Dân Sinh, Bản Kiều, Đài Bắc, Đài Loan. 
 

                                     Hồ sơ của ông Phạm Hồng Ân gửi đến tòa soạn 


Trong đơn ông Ân viết: “Tôi xin đề nghị Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 100/2018/DS-PT ngày 17/5/2018 của TAND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh với căn cứ và lý do đề nghị như sau: Trong quá trình thụ lý, giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm còn có một số nội dung chưa được làm rõ để giải quyết vụ án một cách chính xác khách quan, đúng quy định của pháp luật, cụ thể như sau: 

1. Tôi là bị đơn có yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu nguyên đơn phải hoàn trả cho bị đơn các khoản tiền sau: Tiền đầu tư xây dựng 1.800.000.000 đồng chi phí đi lại trong vòng 03 năm để đòi lại đất cho bà Quỳnh (nguyên đơn) 1.200.000.000 đồng và khoản tiền 24.000.000 đồng nguyên đơn nợ ông từ trước, với tổng số tiền là 3.024.000.000 đồng. Sau khi Tòa án yêu cầu tôi phải nộp tiền tạm ứng án phí, do hoàn cảnh khó khăn nên tôi đã trình bày với Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án và được hướng dẫn làm đơn xin miễn giảm án phí, ngày 12/4/2013, tôi có đơn xin miễn giảm án phí có xác nhận của UBND Phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng: (nơi tôi có hộ khẩu thường trú) và đã gửi Tòa án để xem xét việc liên giảm án theo quy định. Sau khi nhận đơn xin miễn giảm án phí, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án không thông báo lại cho tôi biết đơn miễn giảm án phí có được chấp nhận hay không và khi xét xử đã viện lý do do tôi không nộp tạm ứng án phí để coi là từ bỏ yêu cầu để không xem xét, giải quyết. Trong khi đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự thì quyền yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn trong trường hợp này phải được chấp nhận để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, để loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau cần phải giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.


Trong phần nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm có nêu việc tôi không nộp tiền tạm ứng án phí coi như từ bỏ yêu cầu và nêu tôi có quyền yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác, nhưng không đề cập đến đơn xin miễn giảm án phí của bị đơn có đủ điều kiện để xem xét không và tại phần quyết định của bản án cũng không tuyên rõ nội dung này là một thiếu sót làm ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của tôi.

2. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, tôi đã phát hiện ra dấu hiệu không vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án của thẩm phán Lê Văn Nga, như việc Thẩm phán chấp nhận cho ông Phạm Văn Hiến là cán bộ Công an TP Hồ Chí Minh làm người đại diện cho nguyên đơn tham gia tố tụng là vi phạm Khoản 3 Điều 75 Bộ luật TTDS năm 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 (nay được quy định tại Khoản 3 Điều 87 Bộ luật TTDS năm 2015). Nội dung điều luật quy định rõ “Cán bộ công chức trong các ngành Tòa án, Kiểm sát, Công an không được là người đại diện trong tố tụng dân sự, trừ trường hợp họ tham gia tố tụng với tư cách người đại diện cho cơ quan của họ hoặc với tư cách là người đại diện theo pháp luật” (Trong vụ án này, ông Hiến không thuộc trường hợp được trừ). Ngoài việc ông Phạm Văn Hiên là cán bộ Công an TP Hồ Chí Minh thì ông Hiến còn là chồng của bà Lê Thị Kiêm Hà là người đã mua tài sản là nhà đất đang tranh chấp tại vụ án này với nguyên đơn, cho nên chính ông Hiến đã cùng với vợ tạo dựng nhiều chứng cứ giả có lợi cho nguyên đơn (bà Quỳnh), gây bất lợi cho tôi. Chính vì vậy, tôi đã có yêu cầu xin thay đổi Thẩm phán và có đơn yêu cầu TAND TP Hồ Chí Minh không tách vụ án đồng thời gửi cho VKSND Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện công tác kiểm sát (VKSND TP Hồ Chí Minh đã có giấy biên nhận ngày 12/11/ 2013 và Giấy báo tin số 221/VKS-KT ngày 15/1 /2013 được phô tô gửi kèm theo đơn đề nghị này).

3. Theo nhận định tại bản án dân sự phúc thẩm đó. Với yêu cầu phản tố của bị đơn đề nghị nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn số tiền 3.024000000 đồng nhưng do bị đơn không nộp tiền tạm ứng án phí nên Tòa án không xem xét, giải quyết trong cùng một vụ án mà dành quyền cho bị đơn được khởi kiện giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu. Ngày 16/7/2018, tôi (Phạm Hồng Ân) đứng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Đỗ Diễn Quỳnh và ông LinTong Chih (là nguyên đơn trong vụ án nêu trên) yêu cầu bà Quỳnh phải có trách nhiệm trả chi phí xây dựng và chi phí đi lại chăm sóc đối với đối với nhà đất tranh chấp trong vụ án nêu trên cho tôi với tổng số tiền là 3.200.000.000 đồng, tôi đã nộp tiền tạm ứng án phí, Tòa án Thành phố Hồ Chí Minh có Thông báo về việc thụ lý vụ án số 540/TB-TLVA ngày 16/7/2018 (được phô tô gửi kèm theo đơn đề nghị này) . Tuy nhiên, cho đến nay vụ án đã thụ lý hơn 01 năm 04 tháng vẫn chưa được giải quyết do bà Quỳnh và ông LinTong Chih không hợp tác, trong khi đó lại luôn có mặt để ráo riết, quyết liệt trong việc yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc thi hành án đối với bản án DSPT đã có hiệu lực pháp luật. Theo tôi đây là tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết (chưa biết) được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó (được quy định tại Điều 351 BLTTDS năm 2015 (Điều 304 BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011).

4 . Một số nội dung trong quá trình giải quyết vụ án tôi đã đưa ra đề nghị Tòa án xem xét nhưng chưa được Tòa án 2 cấp xem xét, cụ thể như sau: Trong quá trình thực hiện ủy quyền cho thuê nhà, tôi đã chuyển tiền thuê nhà cho nguyên đơn với tổng số tiền là 290. 000.000 đồng (Đưa cho bà Nguyễn Thị Thanh mẹ của bà Quỳnh 02 lần với số tiền 50.000.000 đồng và đưa cho bà Quỳnh số tiền 249.000.000 đồng, tính đến năm 2008). Nội dung này trong bản án sơ thẩm và phúc thẩm chưa xem xét để nhận định, phân tích đánh giá chấp nhận hay không chấp nhận nội dung này và cũng không đưa bà Nguyễn Thị Thanh tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan để xem xét, giải quyết số tiền ông Ân trình bày đã đưa cho bà Thanh số tiền 50.000.000 đồng là vi phạm. 

Trên đây là căn cứ và lý do tôi đề nghị Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên của TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh. Đề nghị hủy Bản án sơ thẩm số 1171/2016/ DS - ST ngày 24/11/2016 của TAND Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án DSPT số 100 / 2018 / DS - PT ngày 17/5/2018 của TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh để nhập lại giải quyết trong cùng một vụ án TAND TP Hồ Chí Minh đang thụ lý giải quyết theo Thông báo về việc thụ lý vụ án số 540/TB-TLVA ngày 16/7/2018 mới giải quyết triệt để vụ án, bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của các bên đương sự (trong đó có tôi) và bảo đảm giải quyết triệt để vụ án, việc giải quyết vụ án được chính xác và thực tế hơn theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 200 LTTDS năm 2015 về Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn bởi nội dung yêu cầu phản tố của tôi (bị đơn) trong vụ án này hội đủ quy định trong các trường hợp a, b, c của điều luật này”.


Sau khi nghiên cứu đơn, hồ sơ, ngày 20/11/2019, Tạp chí điện tử Hòa nhập đã có Công văn số 265/2019/CV-ĐTHN và 267/2019/CV-ĐTHN chuyển đơn (Kèm theo hồ sơ) của ông Phạm Hồng Ân đến Đại biểu Quốc hội Lê Minh Trí - Ủy viên Trung ương Đảng, Viện Trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hòa Bình - Ủy viên Ban Bí thư, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.

Tạp chí điện tử Hòa nhập thông báo để ông Phạm Hồng Ân được biết.

Ban Bạn đọc

Hỏi: Điều kiện giải quyết chế độ người có công nuôi dưỡng liệt sĩ

Bà Nguyễn Thị An làm hồ sơ đề nghị hưởng chế độ người có công dưỡng liệt sĩ. Trong hồ sơ có ghi, “bà Nguyễn Thị An sinh năm 1941, là con đẻ của ông Nguyễn Văn Bình và bà Trần Thị Lý. Sau khi ông Bình mất, năm 1947 mẹ của bà tái giá. Bà trực tiếp chăm sóc em là liệt sĩ Nguyễn Thị Minh, sinh năm 1944”.
2019-11-24 15:29:59

Hỏi: Căn cứ giải quyết chế độ người bị nhiễm chất độc hóa học

Bố tôi đi bộ đội, đóng quân tại chiến trường miền Nam, thuộc vùng bị rải chất độc da cam. Trước đây bố tôi đi khám được kết luận mất trên 81% sức khỏe, nhưng không có con ảnh hưởng nhiễm chất độc nên không được hưởng chế độ. Bố tôi có đầy đủ giấy tờ.
2019-11-24 15:26:01

Hỏi: Thương binh, bệnh binh được hỗ trợ thêm 200.000 đồng/ngày lễ, tết

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động trên 81% có được hỗ trợ ăn thêm ngày lễ như các đối tượng nêu tại Điểm c, Khoản 1, Điều 9 trong Thông tư số 101/2018/TT-BTC không? Thông tư nêu như vậy có bỏ sót đối tượng không?
2019-11-24 15:16:32

Hỏi: Trường hợp nào được cấp thẻ BHYT người có công?

Tôi là thương binh loại A, hạng 4/4 thì có được hưởng BHYT mã CC dành cho người có công không?
2019-11-24 15:10:06

Nghệ An: Xuất hiện nhóm người dùng chiêu trò bán Hồng Sâm núp bóng quà tặng

Bằng hình thức tinh vi tổ chức hội nghị khách hàng dành cho phụ nữ nội trợ từ 40 đến 75 tuổi, thông qua việc quảng cáo, giới thiệu sản phẩm... Một nhóm gồm có 7 người chưa rõ thuộc đơn vị nào, từ đâu đến..? đã thuê hội trường khách sạn Thông Đỏ tại đường tránh Vinh, khối 2, phường Vinh Tân (TP Vinh, Nghệ An) để dụ dỗ hàng trăm người dân sống quanh vùng tham gia sự kiện và mua sản phẩm với chiêu trò bán hàng núp bóng quà tặng.
2019-11-24 15:09:14

Chi trả trợ cấp ưu đãi người có công qua bưu điện: Tạo sự hài lòng với các đối tượng hưởng chế độ

Sau 2 năm triển khai thực hiện Quyết định số 91/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bắc Kạn về việc phê duyệt Phương án tổ chức chi trả trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng qua hệ thống Bưu điện trên địa bàn tỉnh bước đầu đã mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần thực hiện tốt chủ trương, chính sách 'đền ơn đáp nghĩa' của Đảng, Nhà nước đối với người có công (NCC) với cách mạng.
2019-11-24 15:08:12